Soạn bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm

Discussion in 'Văn Học Lớp 11' started by adminbao, Sep 12, 2012.

  1. adminbao

    adminbao Administrator Staff Member

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    I.Tìm hiểu chung

    Hoàn cảnh ra đời của bài chiếu

    Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi đem quân ra Bắc quét sạch 20 vạn giặc Thanh cùng bọn tay sai bán nước. Lê Chiêu Thống và tàn quân chạy theo Tôn Sĩ Nghị, triều Lê sụp đổ. Trước sự kiện trên, một số bề tôi của nhà Lê hoặc mang nặng tư tưởng trung quân lỗi thời, hoặc sợ hãi vì chưa hiểu triều đại mới nên có người đã bỏ trốn, hoặc đi ở ẩn, hoặc tự tử,…Quang Trung giao cho Ngô thì Nhậm thay mình viết Chiếu cầu hiền kêu gọi những người tài đức ra giúp nước an dân.

     Văn bản thể hiện rõ sự khát khao cầu hiền của nhà vua trẻ tài đức, qua đó ta thấy được Ngô Thì Nhậm thật là uyên bác, cao tay trong việc dùng văn bản, thay mặt nhà vua chiêu hiền đãi sĩ. Ông xứng đáng là người được vua Quang Trung tin cậy.

    Thể loại: Chiếu

    Là một thể văn thư nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân.
    Công văn hành chính thời xưa gồm hai loại: một loại do cấp dưới đệ trình lên nhà vua hoặc triều đình ( tấu, chương, biểu, sớ, khải,…), một loại do nhà vua truyền xuống cho bề tôi ( chiếu, mệnh, lệnh, chế, dụ, cáo, …)

    - Chiếu nói chung, chiếu cầu hiền nói riêng thuộc loại văn nghị luận chính trị - xã hội. Mặc dù chiếu thuộc loại công văn nhà nước, lệnh cho thần dân thực hiện, nhưng ở đây, đối tượng của bài chiếu là các bậc hiền tài, hơn nữa đây là cầu, tức là vua Quang Trung cầu, chứ không phải là lệnh.

    Kết cấu của “ Chiếu cầu hiền”

    Chiếu cầu hiền là một tác phẩm chính luận có kết cấu chặt chẽ, lập luận chắc chắn, lí lẽ sắc bén. Bài chiếu chia làm 3 phần:

    - Phần 1: (đoạn 1 sgk ): cơ sở lí luận của “chiếu cầu hiền” ( mượn lời Khổng Tử, viện ý trời làm cơ sở cho việc cầu hiền)

    - Phần 2 (đoạn 2a và 2b ): tình hình thực tiễn và khao khát cầu hiền của nhà vua.

    - Phần 3: ( đoạn 3 ): Hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra giúp dân giúp nước.

    II.Phân tích
    1.Cơ sở lí luận của “Chiếu cầu hiền”

    Đoạn mở đầu tạo ra một tiền đề vững chắc, thuyết phục để cầu hiền.

    - Mượn ý của Khổng Tử trong sách luận ngữ: Lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao Bắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ về chầu.

    Tác giả vừa tôn vinh bậc thánh hiền của đạo Nho ( như sao sáng), vừa khẳng định với hiền sĩ khắp nơi rằng triều đại mới là một triều đại dùng đức để cai trị đất nước.


    - Mượn ý trời, xem việc người hiền tài về chầu thiền tử là lẽ đương nhiên, hợp quy luật. Nếu người hiền tài tự giấu mình là trái ý trời. ( Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy).

    Ngô Thì Nhậm thật cao tay, ông mượn lời thánh hiền và ý trời để tạo ra một cơ sở lí luận chắc chắn cho việc cầu hiền cảu triều đình. Vừa tôn vinh người hiền tài lại vừa tôn vinh hoàng đế ( ví vua Quang Trung với ngôi Bắc Thần, gọi ông là thiên tử) đã tạo ra một sự tin cậy cho những người hiền chưa hiểu rõ thời cuộc.

    2.Tình hình thực tiễn và khao khát cầu hiền của vua Quang Trung

    - Khi thời thế suy vi, nhiều biến cố, tất yếu kẻ sĩ trong thiên hạ phải tìm chỗ ẩn mình.

    + Tác giả dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ (ẩn trong ngòi khe, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõ canh cửa, ra biển vào sông, chết đuối trên cạn,…) nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng, không xứng danh là người hiền tài.( biện pháp kích tướng)

    + Thái độ khẩn khoản của nhà vua ( nay trẫm đang lắng nghe, ngày đêm mong mỏi,…), hàng loạt câu hỏi ( hay trẫm ít đức…?Hay đang thời đổ nát…?) có tác dụng kêu gọi sự hợp tác của các hiền tài.

    - Thời bình, nước đã có vua, non sông đã có chủ, thay mặt vua, tác giả đưa ra một số công việc bề bộn: công việc vừa mới mở ra, kỉ cương nơi triều chính, công việc ngoài biên cương, dân còn nhọc nhằn, đức hoá của nhà vua chưa kịp nhuần thấm, một cái cột không thể đỡ nổi một cái nhà,… kể muôn sự khó khăn nhằm tac động vào trách nhiệm của hiền sĩ với non sông đất nước. Những người có tâm đức sẽ không thờ ơ trước tình cảnh này. Kết đoạn, tác giả cũng đưa ra một loạt câu hỏi: huống nay trên dãi đất văn hiến rộng lớn này, há trong đó không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?

    =>

    + Cả hai đoạn đều có chung một cấu trúc: kể, liệt kê thực trạng để tìm cách khơi gợi, kích động những người hiền tài có lòng tự trọng, có trách nhiệm. Từ đó kết đoạn là những câu hỏi tu từ xoáy sâu, nhấn mạnh, khích lệ họ đừng chần chừ, ngần ngại nữa, nhanh đưa sức ra giúp dân trị nước.

    + Giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ ( gợi cái tầm thường trong cuộc sống ẩn dật), khi thì lắng lại, khiêm nhường, thành tâm; khi thì khích lệ, cổ vũ người hiền ra giúp chính quyền buổi đầu…

    3. Hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra giúp dân, giúp nước.

    - Để đánh tan những phân vân của nhiều hền tài còn nhiều e ngại do chưa hiểu triều đại mới, nhà vua đưa ra hướng sử dụng người hiền tài thật rõ ràng, rộng mở và độ lượng. Đưa ra nhiều biện pháp cụ thể.

    - Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, lời nói noà dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc, không dùng thì gác lại, không bắt tội.

    - Đối với người có nghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng.

    - Đối với những người tài năng còn bị che kín thì dâng sớ tự tiến cử…

     Người hiền theo quan niệm của Quang Trung thật toàn diện, không chỉ hướng tới những người giỏi chữ nghĩa mà còn hướng tới những người có tay nghề giỏi. Ông còn khuyến khích người tài tự tiến cử.

    -Quan điểm về người hiền tài của nhà vua thât tiến bộ, hiện đại, hợp lòng dân, tạo con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước.

    - Những lời kêu gọi cuối tác phẩm như một lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy, làm nức lòng kẻ hiền tài bốn bể. Cái lí của triều đình đưa ra là không còn gì thuận lợi hơn nữa ( trời trong sáng, đất thanh bình) cho người tài đức xuất hiện.Thời cơ đã đến cho những ai muốn làm nên nghiệp lớn ( gặp hội gió mây )

    III.Tổng kết

    Bài chiếu không chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng tiến bộ của vua Quang Trung trong việc sử dụng người hiền tài mà còn cho thấy cái tài trong nghệ thuật viết chiếu của Ngô Thì Nhậm. Lời lẽ trong bài vừa có cái trang trọng, cao sang, trí tuệ của kẻ bề trên, lại vừa có cái thành tâm, khiêm nhường, của người có đức đang cầu hiền tài. Bài chiếu là một văn bản chính luận đặc sắc của nần văn học trung đại Việt Nam.
     
    Last edited: Oct 23, 2015
  2. adminbao

    adminbao Administrator Staff Member

    Tham khảo thêm :

    Văn bản Chiếu cầu hiền có 6 đoạn với bố cục ba phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết-đây là bố cục quen thuộc của một văn bản nghị luận ( Phần một: đoạn 1; Phần 2: đoạn 2, 3, 4, 5; Phần 3: đoạn 6). Phân tích mỗi đoạn như thế sẽ có một ý nghĩa riêng. Những ý nghĩa đó vẫn còn mang giá trị đời sống sâu sắc dù văn bản chỉ là chứng tích của “một thời vang bóng”. Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là đi tìm mối liên hệ về mặt ý nghĩa của văn bản với cuộc sống hiện đại hôm nay mà không làm xã hội hoá một tác phẩm văn học hay và đẹp. Tôi đã nói với học sinh của mình rằng trên con đường khám phá cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương, nếu đi đến tận cùng ta sẽ gặp được cuộc sống của chính ta trong đó. Và tất nhiên con đường tối ưu để đến được với những giá trị tận cùng đó là tiếp cận tác phẩm từ đặc trưng thể loại. Với Chiếu cầu hiền, chúng ta bắt đầu từ những đặc sắc nghệ thuật của một văn bản chính luận.

    Thành công nhất về mặt nghệ thuật của tác phẩm này có lẽ là ở nghệ thuật lập luận với những lí lẽ rất chặt chẽ, sắc sảo và lập trường chính trị vững vàng của tác giả. Ngô Thì Nhậm vốn là một sĩ phu Bắc Hà, nay lại thay mặt vua Quang Trung kêu gọi sự nhập cuộc của các sĩ phu Bắc Hà – những trí thức của triều đại Lê – Trịnh đã bị nhà Tây Sơn lật đổ. Điều đó thật khó vô cùng ! Thế nhưng trong mỗi câu, mỗi đoạn, mỗi phần của Chiếu cầu hiền ta thấy được rằng Ngô Thì Nhậm đã vượt qua được những trở ngại đầy khó khăn đó ! Giá trị thuyết phục của văn bản cũng đã vượt ra khỏi giới hạn của một thời đại cụ thể ấy.

    1. Phần một (đoạn 1):

    Đoạn văn mở đầu văn bản được trình bày bằng thao tác so sánh với hai lập luận:

    -Lập luận 1: “ Người hiền như ngôi sao sáng trên trời, sao sáng hướng về ngôi Bắc Thần”, suy ra “người hiền là sứ giả cho thiên tử’.

    -Lập luận 2: Sao che mất ánh sáng thì sẽ mất đi vẻ đẹp, người hiền mà không đem tài ra dùng là trái mệnh trời.

    Chung quy lại, mọi lập luận đều để khẳng định một điều: sao muốn đẹp phải tỏa sáng, người hiền tài muốn được công nhận phải cống hiến tài năng đó cho nước, cho đời. Bằng cách này Ngô Thì Nhậm muốn nhắn gửi đến người hiền tài sứ mệnh của chính họ. Nhận thức đúng sứ mệnh này rồi, thì tự họ ắt biết sẽ phải làm gì. Nghệ thuật thuyết phục tế nhị mà thật sắc sảo !

    Hiền tài ngày xưa là thế, hiền tài ngày nay thì sao? Mở rộng vấn đề, hôm nay không chỉ người học rộng tài cao mới có sứ mệnh của người hiền tài mà tất cả mọi người có năng lực đều cần phải biết rõ mình nên làm gì. Một cá nhân tồn tại khép kín, rụt rè, nhút nhát hoặc là ích kỉ, tự phụ …thì khó mà khẳng định được vị thế của mình trong xã hội. Vì thế người hiền không thể hiện tài năng giúp ích cho đời không thể gọi là người hiền. Nên chăng từ đây chúng ta hãy tự rút ra cho mình một bài học về cách sống ở đời đó là cách sống tự tin, bản lĩnh và cống hiến hết mọi khả năng của mình. Đó mới là ý nghĩa của cuộc sống con người.

    2. Phần hai(đoạn 2, 3,4,5).

    Phần hai của văn bản gồm có bốn đoạn, trong đó đoạn thứ hai như là một điểm tựa để tác giả bẩy đoạn 3,4,5 lên cao nhằm thực hiện mục đích thuyết phục, kêu gọi hiền tài ra giúp vua, giúp nước. Điểm tựa ấy bắt nguồn từ những sự việc của quá khứ gần: “Trước đây thời thế suy vi”. Thời thế suy vi là thời nào? Tại sao đó lại là thời suy vi? Đặt câu hỏi này sẽ đưa người đọc ngược dòng lịch sử, trở về với mạt thời Lê Trịnh bệ rạc, thối nát. Hiền tài như ngôi sao bị che khuất, không được trọng dụng, tôn kính. Vì thế cách hành xử tích cực nhất của họ lúc này là giữ gìn lấy khí tiết trong sạch của một nhà nho chân chính bằng cách trốn tránh, ẩn dật hoặc là dè dặt, giữ mình ở chốn quan trường. Thời thế không cho phép họ tự thể hiện mình chứ không phải là họ tự vùi lấp mình.

    Đọc-hiểu đoạn văn này, chúng ta không chỉ biết đồng cảm với cách ửng xử của các hiền tài trước đây mà còn biết học ở Ngô Thì Nhậm cách nhìn nhận, đánh giá con người. Tại sao đoạn một, tác giả khẳng định sứ mệnh của người hiền tài như thế mà ở đoạn hai, tác giả lại có vẻ ủng hộ cách ửng xử của họ trong mạt thời Lê Trịnh như vậy? Bởi vì ông đã nhìn họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh sống (hoàn cảnh rộng-lịch sử xã hội). Chỉ những nhân tài kiệt xuất như Quang Trung Nguyễn Huệ… mới có khả năng tạo ra thời thế, còn như phần lớn con người đều ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh lớn của xã hội. Cách ứng xử của các bậc hiền tài trước đây như vậy cũng có nghĩa là họ đã làm chủ được hoàn cảnh hẹp (hoàn cảnh trực tiếp) của bản thân mình. Tóm lại, bài học mà chúng ta học được ở đây chính là cách đánh giá con người, phải nhìn nhận họ trong mối quan hệ qua lại với hoàn cảnh sống để có thái độ đúng mực.

    Ở đoạn văn thứ ba, tác giả thay lời vua để thổ lộ những tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềm canh cánh chờ mong sự xuất hiện của hiền tài (“ghé chiếu lắng nghe”, “ ngày đêm mong mỏi”). Hơn thế nữa, hai câu hỏi tu từ liên tiếp: “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”-cho thấy sự day dứt, trăn trở khôn nguôi trong lòng vua Quang Trung lúc bấy giờ. Giọng văn bình dị như một lời tâm tình làm gần hơn khoảng cách giữa vua với các hiền tài-“nguyên khí quốc gia”(Thân Nhân Trung). Qua đó, ta thấy rõ ràng một điều rằng vua Quang Trung là người rất coi trọng hiền tài. Như vậy người hiền tài sẽ không lo sợ bị che lấp tài năng hoặc tài năng bị quên lãng, bỏ rơi như thời buổi suy vi. Lập luận như thế là đã rất chặt chẽ và thuyết phục. Nhưng tác giả còn tăng mức độ thuyết phục cao hơn ở đoạn văn tiếp theo.

    Đoạn bốn là những cơ hội của người hiền (thời cơ của người hiền thực sự đã đến) đó là:

    -Đất nước vừa đại định, công việc mới mở ra, còn nhiều việc phải lo toan, khắc phục.

    -Dân còn mệt nhọc, giáo hóa vua chưa thấm nhuần khắp nơi. Trọng trách quốc gia không chỉ mình vua gánh vác được.

    Tất cả đều là những mảnh đất trống cho người hiền thể hiện tài năng của mình. Cơ hội đã đến. Tác giả không hô hào, kêu gọi mà đặt ra một câu hỏi day dứt: “Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò vua giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?” Như vậy, một mặt tác giả chỉ cho người hiền thấy được thời cơ, vận hội mới, qua đó đề cao vai trò của họ trong việc trị nước; mặt khác lại đánh vào tâm lý, khơi gợi lòng tự trọng của họ. Lời văn nhẹ nhàng mà lí lẽ, lập luận thì sắc sảo, có sức thuyết phục cao-vừa lay động chí, vừa chuyển tâm ý của người hiền tài.

    Đoạn năm là bước chuyển ý quan trọng, tăng cấp tối đa sự thuyết phục bằng một chính sách cầu hiền đặc biệt:

    -Ai có tài cho phép tự trình bày công việc;

    -Cho phép các quan tự tiến cử;

    -Người hiền tự tiến cử mình.

    Chính sách cụ thể, rõ ràng, công bằng, dân chủ - mở rộng cửa cho người hiền tài vào cung giúp vua, giúp nước.

    Có thể nói rằng trong phần hai này, nghệ thuật thuyết phục của Ngô Thì Nhậm không chỉ độc đáo mà còn rất tài năng. Lời lẽ thiết tha, lí lẽ sắc sảo, lập luận chặt chẽ. Hòa quyện trong mỗi lời văn là tình và lí: một bên là sự cần thiết của nước nhà, một bên là tấm lòng ưu ái canh cánh của nhà vua dành cho các bậc hiền tài. Bài học mà chúng ta có được ở đây có lẽ là bài học về cách ứng xử ở đời: lấy chí để thuyết phục chí, lấy tâm để thuyết phục tâm, lấy sự công bằng, dân chủ để thuyết phục nhân. Đó là nghệ thuật cầu hiền của Ngô Thì Nhậm và vua Quang Trung, nhưng cũng là nghệ thuật ứng xử của con người trong mọi thời đại.

    3. Phần ba (đoạn 6 )

    Phần kết của văn bản tác giả nhấn mạnh lại thời cơ, vận hội của người hiền. nó có giá trị như một lời nhắc nhở với những hiền tài rằng cơ hợi lập danh, lập thân của họ thực sự đã đến, họ cần phải chứng tỏ chí nam nhi của mình trước lịch sử. Lời kêu gọi cuối cùng sôi nổi, nhiệt thành khuyến khích tinh thần của người hiền một cách sâu sắc.

    Quay trở lại với hoàn cảnh và mục đích ra đời của văn bản Chiếu cầu hiền, ta thấy rõ một điều: nếu tác giả viết không khéo, nói không thông thì hoặc sẽ phản tác dụng, hoặc bản thân bị chê cười. Vì sao vậy ? Các trí thức Bắc Hà cũng như những trí thức của các triều đại phong kiến khác, họ đều trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình, nghĩa là đều nhập tâm lời dạy của Nho gia rằng “trung thần không thờ hai chủ”. Bản thân Ngô Thì Nhậm đã không tuân thủ tuyệt đối lời dạy đó, nay lại ra lời kêu gọi họ ra đầu quân cho nhà Tây Sơn – nếu không thuyết phục được họ thì lại dễ bị họ gọi là bất trung ! Thêm nữa, Ngô Thì Nhậm vốn xuất thân chỉ là một sĩ phu, nay lại đi nói lí lẽ với những người thuộc tầng lớp trí thức liệu có khiến họ tự ái chăng ? Nhưng Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm đã rất thành công. Nguyên nhân là do đâu ? Tài năng của ông ? Thành tâm của ông ? Tất cả những yếu tố đó còn phải cộng thêm một điều rất quan trọng nữa, đó là nghệ thuật ứng xử tài tình, khéo léo, tinh tế của ông. Vua Quang Trung đã không nhầm khi đánh giá cao năng lực và giao cho Ngô Thì Nhậm trọng trách chấp bút thay mình để cầu hiền trong thiên hạ. Và chúng ta hôm nay không chỉ là ghi nhận mà còn phải biết cách thu nhận từ bậc hiền tài này những bài học quý báu cho bản thân mình.

    Vĩ thanh:

    Triều đại Tây Sơn không còn, nhưng lịch sử thì không thể xóa nhòa. Chiếu cầu hiền mà Ngô Thì Nhậm đã chấp bút thay vua Quang Trung ngoài ý nghĩa chính trị của một thời nó còn mang giá trị văn hóa của mọi thời. Những bài học rút ra từ văn bản này thực sự là những điều rất tâm đắc của bản thân khi đọc và dạy nó, vì thế tôi tin vào sự trường tồn của tác phẩm trước những thách thức nghiệt ngã của thời gian.

    Trong kí ức của loài người thì vào buổi trời đất tối tăm, Đan Cô đã xé toang lồng ngực, thắp lửa trái tim mình sáng rực soi đường cho mọi người đi tìm cuộc sống mới; đến nay Đan Cô không còn nhưng trong tiềm thức con người, họ vẫn đi theo thứ ánh sáng đó, hơn nữa họ còn biết cách thắp sáng con đường mình đi. Thiết nghĩ người giáo viên hôm nay cũng vậy, mỗi thầy cô cũng sẽ là một Đan Cô, phải biết thắp sáng những nẻo đường bằng cách cháy hết trái tim mình trên những trang giáo án, trên bục giảng và trước những trang đời của các thế hệ học trò. Vì thế trước khi mở lối để học sinh tiếp nhận được những giá trị của văn bản Chiếu cầu hiền, nếu bản thân mỗi giáo viên tự coi mình là học trò hậu thế của Ngô Thì Nhậm và là học trò của chính mình (tiếp thu và ứng dụng những những bài học mà mình sẽ dạy cho trò) thì tôi tin chúng ta cũng sẽ thuyết phục được những học sinh thế hệ 8x, 9x yêu thích môn Văn. Ánh sáng từ trái tim sẽ đi đến trái tim, huống chi ta còn có cẩm nang là những bài học xử thế, bài học về nghệ thuật thuyết phục của Chiếu cầu hiền.
     

Share This Page